Từ ngày 01/05/2026, nhiều quy định, chính sách mới có hiệu lực, trong đó đáng chú ý đó là: Một số Luật mới có hiệu lực (Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025, Luật Giám định tư pháp 2025); quyền của người lao động khi tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; chi từ nguồn kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ…
*Luật
Bảo hiểm tiền gửi 2025

Ngày
10/12/2025, Quốc hội ban hành Luật số 111/2025/QH15 về Luật Bảo hiểm tiền gửi
có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, thiết lập khung pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền và củng cố sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng. Một
trong những nội dung trọng tâm là tăng cường an toàn hệ thống tài chính và quy
định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Theo đó, nghĩa vụ trả
tiền bảo hiểm phát sinh kể từ một trong các thời điểm sau đây:
Phương
án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có
văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi
cho người gửi tiền.
Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức
tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn
100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được
kiểm toán gần nhất. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức
bảo hiểm tiền gửi về việc trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 36
Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025 (Trả tiền bảo hiểm để bảo đảm an toàn hệ thống, trật
tự, an toàn xã hội).
Luật
quy định tổ chức bảo hiểm tiền gửi là đơn vị tài chính nhà nước hoạt động không
vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm bắt buộc. Nguồn vốn hoạt động
bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm tiền gửi và quỹ dự phòng nghiệp vụ. Đáng chú
ý, Luật cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia sâu hơn vào quá trình xử lý
tổ chức tín dụng yếu kém thông qua các biện pháp như cho vay đặc biệt, mua trái
phiếu dài hạn và cử nhân sự tham gia quản trị.
*Luật
Giám định tư pháp 2025
Luật
số 105/2025/QH15 của Quốc hội ban hành ngày 05/12/2025. Luật Giám định tư
phápLuật này quy định về người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp;
trình tự, thủ tục giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp; chế độ, chính
sách trong hoạt động giám định tư pháp; quản lý nhà nước về giám định tư pháp;
trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt
động giám định tư pháp.
Một
trong những thay đổi có thể kể đến là về thời hạn giám định tư pháp. Theo đó,
thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám
định tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Trong
khi đó, thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc trường hợp
nêu ở trên tối đa là 02 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp
hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 03 tháng; trường
hợp vụ việc giám định có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc
đặc biệt lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng.
Bộ,
cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ tính
chất chuyên môn của lĩnh vực giám định, thời hạn giám định tối đa nêu tại khoản
này để quy định thời hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể.
*Quyền
của người lao động khi tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Từ
ngày 10/5/2026, Nghị định 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt đầu có
hiệu lực thi hành. Theo đó, người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung có
các quyền sau:
Tự
nguyện tham gia, dừng hoặc tạm dừng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo văn
bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp sử dụng lao động và người lao động và chương
trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí.
Nhận chi trả bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Nghị định 85/2026.
Được
áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập được chi trả từ quỹ bảo
hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; được
trừ khoản đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung vào thu nhập trước khi tính thuế đối
với thu nhập từ tiền lương, tiền công theo mức quy định của pháp luật về thuế
thu nhập cá nhân.
Theo
dõi và yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo văn bản
thỏa thuận giữa doanh nghiệp sử dụng lao động và người lao động, chương trình bảo
hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí.
Được
cung cấp đầy đủ tài liệu giới thiệu về quỹ hưu trí theo quy định tại Điều 27
Nghị định 85/2026. Hằng tháng được doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí hoặc doanh
nghiệp sử dụng lao động cung cấp thông tin về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ
sung; được yêu cầu doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí xác nhận thông tin về tham
gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Được
bảo mật thông tin về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Được duy trì hợp đồng
bảo hiểm hưu trí bổ sung trong thời gian tối đa không quá 01 năm hoặc lựa chọn
chuyển tài khoản hưu trí cá nhân sang quỹ hưu trí khác sau khi chấm dứt hợp đồng
lao động hoặc khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 8 Điều 16 Nghị định
85/2026.
Khiếu
nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của pháp luật.
Được chỉ định người thừa kế theo thứ tự quy định của Bộ luật Dân sự tại văn bản
thỏa thuận hoặc trong phiếu đăng ký tham gia quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung để hưởng
chi trả từ quỹ hưu trí.
*Chi
từ nguồn kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ
Giao quyền tự chủ tài
chính, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, cho phép cơ quan chủ động chi tiêu
và thu nhập tăng thêm
Nội
dung này được quy định tại Nghị định 75/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 16/3/2026)
quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản
lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước(có hiệu lực từ ngày 1/5/2026). Văn bản
này tập trung vào việc giao quyền tự chủ tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng
ngân sách, cho phép cơ quan chủ động chi tiêu và thu nhập tăng thêm, cụ thể như
sau:
-
Chi tiền lương, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, chi tiền lương hợp
đồng lao động, chi phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân
theo quy định hiện hành của Chính phủ về cơ chế tiền lương đối với cán bộ, công
chức và người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước và các quy định của
pháp luật có liên quan.
-
Chi thực hiện công tác thi đua, khen thưởng: Thực hiện theo quy định của Luật
Thi đua khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
-
Các khoản chi bố trí trong định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định:
Chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền,
liên lạc, hội nghị, tổng kết, công tác phí trong nước, chi cho các đoàn đi công
tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam; chi phí thuê mướn,
chi nghiệp vụ chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực; chi bảo dưỡng, bảo trì, sửa
chữa thường xuyên các công trình cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ công tác chuyên
môn; chi mua sắm, thay thế trang thiết bị, phương tiện làm việc của cán bộ,
công chức theo tiêu chuẩn, định mức và các khoản chi khác bố trí trong định mức
phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định.
-
Các khoản chi nghiệp vụ đặc thù thường xuyên hàng năm theo chức năng, nhiệm vụ
đã được cơ quan có thẩm quyền phân bổ, giao dự toán thực hiện chế độ tự chủ
theo quy định.
-
Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
*Siết
chặt kỷ luật trong lĩnh vực phục hồi, phá sản doanh nghiệp
Ngày
1/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm
hành chính; trong đó có thiết lập chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 18/5/2026.
Nghị
định quy định mức phạt tiền tối đa lên đến 40 triệu đồng đối với cá nhân có
hành vi vi phạm. Đáng chú ý, đối với các tổ chức vi phạm, mức phạt tiền được áp
dụng gấp 2 lần so với cá nhân. Các hành vi bị xử phạt bao gồm: cản trở quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn khi mất khả
năng thanh toán; che giấu, tẩu tán tài sản; hoặc lợi dụng thủ tục phục hồi, phá
sản để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Ngoài
phạt tiền, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan còn đối mặt với biện pháp khắc
phục hậu quả bắt buộc như khôi phục tình trạng tài sản ban đầu. Nghị định này
được kỳ vọng sẽ tăng cường tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ
nợ và các đối tác, đồng thời tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, kỷ cương
trong quá trình tái cấu trúc hoặc xử lý doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính.
*Điều
chỉnh cơ chế bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngày
31/3/2026, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban
hành kèm theo Quyết định số 3/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, đánh dấu bước thay đổi quan trọng
trong cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) vay vốn tại các ngân
hàng thương mại.
Theo
đó, quy trình xác định lãi suất đối với dư nợ vay bắt buộc bảo lãnh bằng đồng
đô la Mỹ được chuẩn hóa chặt chẽ. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu
trách nhiệm cung cấp mức lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại
trong nước để làm căn cứ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam quyết định lãi suất
áp dụng. Quyết định này cũng chính thức dừng triển khai các hoạt động bảo lãnh
vay vốn mới theo quy định cũ tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg.
Việc
cập nhật các quy định này không chỉ giúp tối ưu hóa công tác quản lý tài chính
công mà còn tạo sự minh bạch trong chi phí vay vốn của doanh nghiệp. Đây là động
thái kịp thời nhằm điều chỉnh hoạt động hỗ trợ tín dụng phù hợp với diễn biến của
thị trường tài chính và các quy định pháp luật mới về ngân sách, tổ chức tín dụng
và doanh nghiệp, từ đó góp phần hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong giai đoạn hiện nay.